Monday, 10 November 2014

chú thích: di tống Thừa Thiên ngục tỏa cấm



Chinh nguyệt nhị thập nhất nhật di tống Thừa Thiên ngục tỏa cấm

(1) dã mã : mây mỏng hoặc hơi nước di động. ◇Trang Tử : Dã mã dã, trần ai dã, sanh vật chi dĩ tức tương xuy dã , , (Tiêu dao du ) Kìa hơi nước, kìa vẩn bụi, những vật sống lấy hơi mà thổi nhau.
(2) bành phái : mông mênh, bao la; tiếng động hoặc khí thế sóng nước xung kích. ◇Tô Thức : Thử thân tùy tạo vật, Nhất diệp vũ bành phái , (Hàn tử hoa thạch tông trang ) Tấm thân này theo con tạo (xoay vần), (Như) một chiếc lá quay cuồng trên sóng vùi dập.
(3) Nhiêm công : chỉ Tô Thức, hiệu là Tô Đông Pha, vì nhà thơ có bộ râu rậm.
(4) giả sở : hình cụ (roi, đòn...) làm bằng gỗ cây giả, cây kinh... dùng để đánh đập. Cao Bá Quát bị tra tấn tàn khốc bằng roi. Xem thêm bài "Đằng tiên ca" .
(5) xem "Bạc vãn túy quy" : , . , (Mính đính quy lai bất dụng phù, Nhất giang yên trúc chánh mô hồ. Nam nam tự dữ liên hoa thuyết, Khả đắc hồng như tửu diện vô). Thi Vũ dịch: Chuếnh choáng say về không đợi dắt, Mịt mù khói trúc một dòng sông. Rì rầm ghé tới hoa sen hỏi: Hoa có hồng như mặt rượu hồng?
(6) chỉ những kẻ theo thời, sẵn sàng quỵ lụy với quyền lực, không có chút liêm sỉ, miễn đạt được danh lợi, để vênh váo với đời. Cao Bá Quát thương xót họ mà nghĩ rằng không biết những kẻ này có được an thân suốt đời như vậy không.
(7) Pháp nhãn : con mắt Phật nhìn thấu suốt mọi sự.
(8) lục tạc : sáu giác quan có lỗ trên người (như mắt, mũi, tai, v.v.).
(9) hỏa khanh : hố lửa, danh từ Phật giáo, thường gặp qua nhiều bộ kinh, như Pháp Hoa chẳng hạn. Tả sự mê muội của người đời. Kinh Phật "Quan kinh sớ" có câu: "Tam ác hỏa khanh, lâm lâm dục nhập" , Thấy hố lửa của ba đường ác, vẫn lăm lăm muốn vào. Ba đường ác, tam ác đạo gồm: ngạ quỉ , địa ngục và súc sinh .
(10) luân đạn : bánh xe và viên đạn. ◇Trang Tử: "Tẩm giả nhi hóa dư chi hữu tí dĩ vi đạn, dư nhân dĩ cầu hào chích; tẩm giả nhi hóa dư chi khào dĩ vi luân, dĩ thần vi mã, dư nhân dĩ thừa chi" , , , (Đại Tông Sư ) Chẫm rãi mà hóa cánh tay phải tôi làm viên đạn, tôi sẽ nhân để kiếm chả chim. Chẫm rãi mà hóa xương-cùng tôi làm bánh xe, lấy thần hồn làm ngựa, tôi sẽ nhân mà cưỡi nó (Nhượng Tống dịch). Ghi chú: tẩm giả cũng có nghĩa là: giá như, nếu.
(11) Đời Chiến Quốc, thi hào Khuất Nguyên tận trung với nước Sở. Nhưng Sở Hoài Vương phóng trục, ông đi lang thang ở bờ sông, làm ra thiên Li Tao tỏ lòng thương đời lo nước của mình.



No comments:

Post a Comment